Nghìn kế tương tư | Chương 1.1

Chương 1: Kế mưu chồng chất (1)

Tháng bảy, sen mùa hạ đẹp lung linh.

Sau cơn mưa sớm mai, thảm sen trên sông Cừ Phù ngoài kinh thành tốt tươi mơn mởn. Những giọt sương đêm còn sót lại lăn tròn trên phiến lá sen, nhìn đám sen trắng sen hồng mơn mởn tươi xanh thật khiến người ta hận mình không được đắm chìm trong đó để quên đi oi nóng ngày hè.

Văng vẳng xa xa vọng lại câu hát:

“Cừ Phù giang mênh mang sen ngát

Vội vàng thuyền nhỏ hái sen tươi

Ta chọn gạo sen ủ hũ rượu

Mến tặng ca ca uống thử chơi

Muội muội…”.

Tiếng hát như luồn trong hoa lá, sau đó từ đầm sen vọng ra tiếng cười đùa lảnh lót, hình như những cô gái hái sen đang trêu chọc cô nương vừa hát khúc tình ca.

Ðỗ Hân Ngôn hẹn Ðinh Thiển Hà bên bờ sông Cừ Phù.

Chàng đến sớm nửa canh giờ, một mình dạo bước giữa thoang thoảng hương sen, lắng nghe khúc hát văng vẳng xa xa, nghĩ đến nụ cười của Ðinh Thiển Hà mà lòng ngây ngất.

Không lâu sau, con thuyền nhỏ rẽ lá sen tiến lại phía bờ. Ba cô nương vẫn vừa cười đùa vừa chống con thuyền đầy ắp hoa lá sen cập bờ. Cả ba cô gái đều đội nón trúc che nắng, vải xanh che kín nhìn không rõ mặt. Ba cô cùng mặc áo nền xanh hoa trắng, loại áo các cô gái hái hoa vẫn hay mặc, một chiếc tạp dề hoa thắt ngang eo thon, mang vẻ phong tình làm mê đắm lòng người rất riêng.

Vào tới bờ, ba cô vẫn chưa rời đi ngay. Một cô lấy ra ba cái bát to bằng gốm thô, bắc cái nồi đất trên bếp lửa, đổ ra bát cháo vừa nấu cùng lá sen tươi, rồi bày ra một đĩa đậu phụ nhự, ba người nói cười chuẩn bị ăn sáng.

Cháo lá sen thơm nức khiến Ðỗ Hân Ngôn bất giác ứa nước miếng. Ham thích khí trời thanh tân sau cơn mưa buổi sớm, Ðỗ Hân Ngôn vội cưỡi ngựa đến sông Cừ Phù, chưa kịp ăn sáng, giờ bụng đói cồn cào. Thấy ba cô nương hái sen hoạt bát, cháo lá sen ngát hương, Ðỗ công tử không ngăn nổi lòng mình bước đến cười hỏi: “Các cô nương nấu cháo thơm quá, tại hạ không thể cầm lòng, không biết có thể mua một bát không?”.

Không trung lại lanh lảnh tiếng cười con gái, các cô thẹn thùng đùn đẩy nhau. Cuối cùng cô nương bạo dạn nhất đứng dậy, cầm theo mấy chiếc lá sen và một cành sen hồng đặt bên bờ sông, đổ một bát cháo để lên trên, rồi vẫn cúi đầu vội vã lên thuyền. Chiếc thuyền nhỏ lại mất hút giữa đầm sen, lúc này cô gái mới lên tiếng: “Mời công tử!”.

Tiếng cười rộ lên, Ðỗ Hân Ngôn loáng thoáng nghe được một câu: “Công tử tuấn tú quá…”, chàng cũng bật cười.

Cầm cành sen hồng lên, bên trên vẫn đọng vài giọt sương buổi sớm, chàng đưa lên mũi ngửi, tận hưởng không khí tươi đẹp vô ngần của buổi sớm mai. Ðợi đến khi Ðỗ Hân Ngôn đưa bát cháo lá sen lên miệng thổi, thử một ngụm xong, mặt chàng đổi sắc, phì vội ngụm cháo ra, bước chân còn suýt chút nữa hụt cả xuống đầm sen, tiếng cười cũng đã mất hút giữa đám sen.

Ðỗ Hân Ngôn cười vang, đáp: “Cháo sen ba đậu[1] của các cô nương hương vị đặc biệt, tại hạ xin lĩnh tấm lòng”.

[1] Theo tài liệu cổ, ba đậu vị cay, tính nóng, rất độc, là loại thuốc xổ mạnh. Ăn nhầm ba đậu có thể dẫn đến tử vong.

Tiếng nói chứa đầy nội lực, vang vọng trên sông Cừ Phù hồi lâu không dứt. Lá sen lay động như những bàn tay bé xíu của trẻ con. Ðỗ Hân Ngôn nhìn mãi mà chẳng thấy bóng dáng con thuyền nhỏ, cứ như là mấy cô gái hái sen chưa từng xuất hiện ở đây.

Ðỗ Hân Ngôn mặt đầy nghi hoặc quay lại bờ, sau lưng vang lên tiếng vó ngựa vội vã, một bóng đỏ ào tới. Ðinh Thiển Hà váy áo đỏ tươi nhảy xuống từ lưng con ngựa tía, vẻ mặt xấu hổ: “Tiểu Ðỗ, ta ngủ quên mất”.

Ðưa nàng cành sen hồng, Ðỗ Hân Ngôn mỉm cười: “Không sớm không muộn, vừa đúng lúc”.

Ðinh Thiển Hà hít thật sâu hương sen thơm, không đoán nổi vẻ mặt của Ðỗ Hân Ngôn, không rõ người này không giận hay là giận mà không muốn cho nàng biết, trong lòng thầm mắng cái kiểu nho nhã rởm, phong độ thối nghìn năm không đổi của Ðỗ Hân Ngôn, nhưng vẫn cười híp cả mắt, cảm thấy nói một câu dễ nghe vẫn hơn: “Cảnh ở đây thật đẹp, sáng sớm lại ít người. Tiểu Ðỗ chọn địa điểm lần nào cũng tuyệt!”.

Mặt sông lại rộ tiếng cười. Ðỗ Hân Ngôn khẽ chau mày nhìn về phía đó, chiếc thuyền nhỏ đã cập bờ bên kia, ba cô nương hái sen đã lên bờ. Một cô còn nhìn về phía bên này, cố ý giơ nồi cháo ban nãy lên cao để Hân Ngôn nhìn cho rõ, sau đó ném thẳng nồi xuống sông, phủi tay rồi mới dương dương tự đắc bỏ đi.

Ðỗ Hân Ngôn bỗng trợn mắt, cách cả con sông Cừ Phù chàng vẫn nhìn thấy cánh tay trắng nõn nà của cô gái hái sen, rõ ràng không phải tay của người lam lũ. Vì khúc tình ca hay vì tâm trạng đợi chờ mà chàng đã sơ hở bỏ qua điều này? Chàng bình thản nói với Ðinh Thiển Hà: “Mặt trời đã cao quá đầu rồi, chúng ta đi chỗ khác thôi”.

Tháng mười, lá phong như lửa.

Phía tây kinh thành có một ngọn núi tên Lạc Phong, là điểm đến ngắm lá phong mỗi độ thu về. Nhà họ Ðỗ có một tòa biệt viện ở ngay chân núi này.

Ðỗ Hân Ngôn thích nhất là cảnh thu nơi biệt viện, lại đúng lúc có mấy ngày phép không phải đi ứng mão[2] bèn  dẫn theo thư đồng đến đây ở.

[2] Thời  xưa, ở chốn công quyền cứ đến giờ Mão phải điểm danh nên gọi là ứng mão.

Nắng thu ấm áp, chim chóc véo von, lá phong đỏ rực khẽ rơi trong gió, gác lại những việc bận rộn chốn quan trường, chỉ có ở đây, Ðỗ Hân Ngôn mới cảm thấy lòng dạ rối bời toan tính thường ngày có được chút ít thảnh thơi.

Chàng lấy ống tiêu ra thổi khúc Cổ sát u cảnh. Tiếng tiêu thanh nhã, ẩn hiện giữa rừng. Ðang lúc thả hồn vào khúc nhạc, từ phía rừng trúc bên ngoài biệt viện bỗng vang lên tiếng đàn phụ họa.

Tiếng đàn bay trong không trung, âm trầm khoáng đạt mà kỳ ảo. Tinh thần Ðỗ Hân Ngôn phấn chấn hẳn lên khi gặp được tri âm, tiếng đàn và tiếng tiêu hòa quyện cực kỳ ăn ý.

Ðỗ Hân Ngôn thấy mình như đang bay giữa bạt ngàn rừng núi, ngẩng lên thấy bầu trời cao rộng, cúi xuống là sơn thủy hữu tình, vạn vật trong tầm mắt trở nên nhỏ bé, trong lòng rộng mở. Tiếng tiêu vừa dứt, tiếng đàn cũng ngưng. Chàng vội vã ra khỏi rừng phong để gặp gỡ người vừa hòa điệu với mình.

Trong rừng trúc, một chiếc trướng quây bằng sa trắng không biết được dựng từ lúc nào, bên trong thấp thoáng bóng một người con gái áo trắng, giống như một nàng tiên ẩn hiện giữa sương mù, không nhìn rõ mặt, chỉ có cảm giác siêu phàm, thoát tục.

Ðỗ Hân Ngôn đi đến bên trướng, chắp tay cười nói: “Tài đàn của cô nương thật là tuyệt kỹ, Ðỗ Hân Ngôn xin đáp lễ”.

Trong màn vọng ra một giọng nói lạnh như băng, khiến người khác không dám tiếp lời: “Mạo muội hòa khúc, mong công tử lượng thứ. Tiểu nữ không gặp người lạ, xin công tử hãy về cho”.

Nói xong thì tự pha trà cho mình.

Ðỗ Hân Ngôn giật mình, khuôn mặt thoáng một nụ cười hứng thú.

Chàng là cháu ruột của Ðức phi, là em họ của Ðại hoàng tử, phụ thân Ðỗ Thành Phong là chỉ huy sứ. Mười bảy tuổi thi đỗ bảng nhãn, được hoàng thượng coi trọng, hai mươi tuổi đã trở thành tri sự lục phẩm trẻ nhất Giám Sát Viện. Lại thêm tướng mạo thanh tú, phong lưu lắm của.

Chàng đối xử với nữ nhi cực kỳ dịu dàng, cho dù với a hoàn phẩm cấp thấp nhất cũng không quên thể hiện phong độ của mình.

Vì thế Tiểu Ðỗ Kinh Thành đi đến đâu cũng đều nhận được sự yêu thích của các cô nương, những cô nương muốn dò la hành tung của chàng để được “tình cờ” gặp chàng nhiều không kể xiết. Hôm nay bị người xua đuổi, Ðỗ Hân Ngôn bất giác nghĩ tới hai chiêu giả vờ từ chốithả để bắt. Nhưng tiếng đàn khi nãy đã khiến chàng mê mẩn, chỉ muốn nhìn thấy khuôn mặt của cô nương gảy đàn, thế nên vẫn mặt dày không chịu đi.

“Hương trà thanh nhẹ, chắc là trà Thanh Sơn Lục Thủy của Thục Trung. Lại thoang thoảng mùi hương của trúc, búp trúc vừa hái buổi sớm cho vào đun nước, được bảy phần thì vớt ra bỏ đi, rồi lấy nước đó hãm trà. Non xanh nước biếc hương trúc thơm, cô nương thật có nhã hứng”.

Nghe những lời ấy, động tác của cô gái trong màn có chậm đi, nhưng vẫn không nói gì thêm.

Ðỗ Hân Ngôn cũng không thấy giận, khẽ cười đáp: “Ngửi hương biết mỹ nhân, vẻ đẹp này giống như hoa lan nơi đáy cốc, thật khiến người ta quên đi thế tục. Kiêu ngạo cự tuyệt từ ngàn dặm, lạnh lùng xa cách lại càng hay”.

Cô nương hừ một tiếng, quay người vén rèm sau lưng bỏ đi, cao ngạo nói vọng ra từ sau những lớp màn: “Nghe nói Tiểu Ðỗ Kinh Thành phong nhã, đối đãi với nữ nhi dịu dàng lễ độ, hà tất phải lằng nhằng ở đây đánh mất phong độ của mình? Trà của ta đắng lắm, Ðỗ công tử không uống nổi đâu!”.

Ðỗ Hân Ngôn nghe thế liền dừng bước, nhưng ánh mắt vẫn lộ rõ vẻ hiếu kỳ. Ðúng là cô nương này không có ý với chàng, cái kiểu thấy người mà muốn tránh cho thật xa của cô gái khiến Ðỗ Hân Ngôn bất giác xoa cằm, không ngờ chàng lại không thể lọt vào mắt cô nàng? Nhưng mà, giai nhân đã vô ý, đương nhiên chàng cũng không cố ép cho mất hứng.

Cách một tấm màn che, cái bóng trắng mảnh mai đó càng lúc càng xa rồi mất hút giữa rừng trúc. Ðỗ Hân Ngôn mỉm cười, lẩm bẩm: “Ðắng thật sao?”.

Chàng bước tới vén tấm màn trắng, bên trong có một chiếc bàn, trên bàn có một chiếc đàn, nhìn qua đã biết chỉ là một chiếc đàn bình thường. Có thể dùng chiếc đàn này gảy ra những thanh âm cao minh như vừa rồi, chứng tỏ rằng tài nghệ của cô gái này không hề tầm thường.

Trong màn còn đặt một chiếc bếp lò, trên bếp là ấm nước đang sôi, bàn trà có mấy chiếc bát uống trà bằng sứ mỏng màu trắng vẽ thêm vài lá trúc, vô cùng tinh tế.

Những vật dụng của cô nương này đều không hề bình thường. Ðỗ Hân Ngôn thảnh thơi ngồi xuống, lấy nước pha trà, rót trà ra bát, hương thơm bay khắp. Chàng đưa lên ngửi, hương thơm của trúc lẫn với hương đắng của trà Thanh Sơn Lục Thủy quẩn quanh đầu mũi, nước trà màu vàng tươi trong vắt.

Ðỗ Hân Ngôn nhớ lại tiếng đàn, càng không nhẫn nại được thêm, uống cạn bát trà. Nước trà vừa vào miệng, chàng đã phì vội ra, muốn tìm nước súc miệng thì chỉ có mỗi ấm nước đang sôi sùng sục trên bếp.

“Hoàng liên?!”[3]. Vẻ mặt Ðỗ Hân Ngôn khổ sở như sắp khóc đến nơi, miệng vẫn há hốc vì đắng, vội vã thi triển khinh công bát bộ truy thiền, thân thủ nhanh như chớp, thoáng cái đã mất hút, đúng là không thể uống nổi.

[3] Hoàng liên tính hàn, vị rất đắng, Ðông y chủ yếu dùng để chữa bệnh đường ruột.

Mãi đến khi nhét đầy miệng đường, ngọt đến muốn đau răng, Ðỗ Hân Ngôn bỗng nhớ đến bát cháo ba đậu của cô gái hái sen.

Tháng sáu ăn cháo ba đậu, tháng mười uống trà hoàng liên. Rốt cuộc những cô nương này là ai?

Ðỗ Hân Ngôn tha hồ dùng mật thám của Giám Sát Viện, tin tức nhận được khiến chàng vô cùng kinh ngạc.

“Ngày hai mươi sáu tháng mười, thiên kim của Thẩm tướng dẫn theo đày tớ đến núi Lạc Phong ngắm lá phong, ngày mồng một tháng mười một mới trở về”.

Lẽ nào người chơi khăm chàng chính là thiên kim của Thẩm tướng?

Ngày gảy đàn hòa khúc chính là hôm Thẩm tiểu thư rời đi? Vậy thì trước đó không chỉ một lần nàng ta đã nghe tiếng tiêu của chàng. Ðợi đến ngày về mới gảy đàn, có phải vì chơi khăm chàng nên mới rời đi? Nhưng chàng không quen biết tiểu thư của Thẩm tướng, tại sao nàng ta lại làm như vậy với chàng?

Ðỗ Hân Ngôn suy nghĩ một hồi, cuối cùng cũng nghĩ ra một việc.

Hội thơ kinh thành, tiết đạp thanh[4] tháng ba. Tài tử giai nhân tụ hội hồ Mạc Sầu bên ngoài kinh thành.

 [4] Tiết đạp thanh: Là tục dạo bộ và du ngoạn ngoại thành vào mùa xuân ở Trung Quốc thời cổ. Lúc này vạn vật tươi mới, mưa thuận gió hòa, muôn loài sinh sôi nảy nở, khiến tinh thần con người phấn chấn, vui tươi phấn khởi.

Trong hội thơ, nhân lúc cao hứng Ðỗ Hân Ngôn đã đề một câu thơ: “Phương phi xuân rơi lệ/ Thiển hà hạ khoe hương”. Thế là thành câu chuyện để những người rỗi việc thêm thắt thành Tiểu Ðỗ Kinh Thành nhận định, Ðinh Thiển Hà, ái nữ của Võ Uy tướng quân còn hơn cả Thẩm Tiếu Phi, ái nữ của tể tướng đương triều.

Tiểu thư Thiển Hà của nhà họ Ðinh thường cưỡi con ngựa tía, phong độ oai nghiêm, dung mạo xinh đẹp, ai gặp cũng say mê. Thẩm Tiếu Phi lớn lên chốn khuê phòng kín đáo, không gặp gỡ ai. Vì nhã nhặn hiền dịu nên được hoàng hậu và hoàng quý phi vô cùng yêu mến. Một câu: “Tiểu thư khuê các phải như tiểu thư nhà họ Thẩm!”, liền nổi danh hơn Ðinh Thiển Hà.

Ðinh Thiển Hà chưa từng gặp mặt Thẩm Tiếu Phi đã bị phê xuống xếp sau tất nhiên không phục. Thiển Hà tính tình thẳng thắn, không quen với kiểu e thẹn của các quý cô. Nàng cưỡi ngựa ra ngoài, xuất đầu lộ diện nên thường bị phụ thân giáo huấn, nhìn Thẩm Tiếu Phi mà học. Ðinh Thiển Hà càng thêm tức giận liền kể khổ với bạn thanh mai trúc mã Ðỗ Hân Ngôn.

Tất nhiên là Ðỗ Hân Ngôn cũng đã tìm đủ lời hay ý đẹp để khuyên can, trong lúc cao hứng đề thơ cũng là để lấy lòng Ðinh Thiển Hà, vô tình đắc tội với Thẩm Tiếu Phi.

Nghĩ lại việc này, biết sai là do mình, Ðỗ Hân Ngôn cũng chỉ biết cười trừ.

Hai tháng nữa trôi qua, những bông tuyết mùa đông đã phủ kín cả kinh thành. Ðúng là tiết trời thích hợp để hâm rượu ngắm tuyết.

Ðỗ Hân Ngôn dẫn theo thư đồng Tín Nhi đến thẳng Tích Thúy Viên. Giang hồ đệ nhất kiếm khách Vệ Tử Hạo gửi thư nói rằng Tích Thúy Viên xuất hiện một cầm sư có ngón đàn tuyệt kỹ.

Nghe thấy hai tiếng cầm sư, Ðỗ Hân Ngôn không thể ngồi yên. Hôm đó hòa khúc nơi biệt viện, giai điệu đẹp đẽ của bản hòa khúc đàn tiêu vẫn du dương mãi trong lòng, chàng chỉ mong lại tìm được cao thủ có thể kết hợp với tiếng tiêu của mình nên đã nhờ Vệ Tử Hạo kiếm tìm cao thủ gảy đàn.

Ðỗ Hân Ngôn cũng thường mượn cớ công vụ đến thăm hỏi Thẩm tướng. Vừa mới nói một câu tán thưởng vẻ đẹp của hoa viên tướng phủ, Thẩm tướng đã nghiêm mặt nói: “Hậu hoa viên của tướng phủ ngoài lão phu ra không cho phép bất cứ nam nhân nào bước vào, không biết Ðỗ đại nhân làm thế nào mà biết được vẻ đẹp của hoa viên?”.

Tất nhiên là Ðỗ Hân Ngôn không thể nói rằng mình trèo tường nhìn trộm Tú Lâu, nên chỉ có thể làm ra vẻ mặt sùng kính nhất có thể, ưỡn lưng nịnh nọt: “Hạ quan thường đi qua bên ngoài hậu hoa viên tướng phủ, thấy hoa thơm bướm lượn, ẩn hiện bóng trúc xanh, dây leo lan rộng trên tường, trong lòng thầm đoán, tướng gia phẩm chất cao thượng, bố trí hậu hoa viên hẳn cũng thanh nhã không ai sánh bằng”.

Thẩm tướng hừ một tiếng, rồi không truy hỏi gì thêm.

Ðến khi Ðỗ Hân Ngôn đi qua tường bao của hậu hoa viên lần nữa, tường bao đã bị xây thêm ba thước ngói xanh, bịt kín những hoa tươi trúc xanh và cả dây leo ở bên trong. Ðỗ Hân Ngôn hừ mũi một tiếng, cảm thấy Thẩm tướng thật nhỏ nhen, lại không nhịn được cười, xây tường cao lên ba thước thì có thể chặn được chàng sao?

Tường cao không ngăn được Ðỗ Hân Ngôn, nhưng cũng từ đó trở đi, chàng không còn được nghe tiếng đàn réo rắt du dương như tiếng nhạc trời nữa. Ðỗ Hân Ngôn thất vọng vô cùng.

Từ hôm đó trở đi, Ðỗ Hân Ngôn chú tâm tìm cao thủ gảy đàn. Hôm nay dẫn theo Tín Nhi vui vẻ đến Tích Thúy Viên để nghe cầm sư mới đến gảy đàn, yêu cầu chính khúc Cổ sát u cảnh. Tiểu Ðỗ Kinh Thành đến, cầm sư tất nhiên phải nể mặt. Chẳng bao lâu, có thị nữ dẫn chàng vào một hoa viên nhỏ.

Tuyết trắng bay đầy trời, hoa mai đỏ nở trên cành. Trong mái đình giữa vườn đốt một bếp lửa, đặt ghế gấm, bốn bên quây lụa chắn gió. Một tấm bình phong tứ quân tử mai lan cúc trúc đặt ở ghế sau, che đúng tầm nhìn.

Không lâu sau, chàng nhìn thấy hai bóng người mờ mờ ảo ảo hiện ra phía sau tấm bình phong.

Trong lòng Ðỗ Hân Ngôn trào dâng một cảm giác rất đặc biệt, chàng thoáng mong bóng cầm sư kia chính là Thẩm Tiếu Phi, chỉ muốn đá bay tấm bình phong đang chắn mất tầm nhìn kia để nhìn cho rõ, nhưng ngoài mặt vẫn giữ  vẻ thờ ơ uể oải ngồi bên bếp lửa, ra vẻ không quá hứng thú.

Tiếng đàn vừa cất lên, cảm giác quen thuộc ùa về. Trống ngực Ðỗ Hân Ngôn đập thình thịch, chàng nhìn chằm chằm vào trong đình, cuối cùng thì đứng lên.

Một giọng nói thoáng giống giọng nói nơi rừng trúc, mang vẻ lạnh lùng xa cách nghìn trùng cất lên: “Công tử xin dừng bước, tiểu nữ không gặp người lạ”.

“Nếu ta muốn gặp thì sao?”.

Một thoáng yên lặng phía sau tấm bình phong, giọng nói uyển chuyển như nước chảy: “Trà của tiểu nữ đắng lắm đấy”.

Ðỗ Hân Ngôn khẽ nhướn mày, chàng lại không muốn vào nữa, cười to đáp: “Vào miệng thì đắng, nhưng càng lâu càng cảm thấy ngọt”. Chàng lại ngồi xuống, bảo Tín Nhi đem ra một bình rượu. “Lần trước tiểu thư đi vội quá, tại hạ đã uống của tiểu thư một bát trà, muốn mời lại tiểu thư chung rượu, không biết ý tiểu thư thế nào?”.

Chàng mở nắp đậy, hương rượu ngào ngạt, ánh mắt vẫn nhìn chằm chằm vào sau tấm bình phong.

Quả nhiên, người con gái đó từ tốn đáp: “Rượu phần lá trúc xanh, phải uống bằng bát ngọc trắng. Vô Song, đem bát ngọc trắng ra đây”.

“Ha ha, tiểu thư quả nhiên hiểu nhiều biết rộng, đúng là rượu phần lá trúc xanh, phải uống bằng bát ngọc trắng”. Ðỗ Hân Ngôn vốn định thử đối phương, nay thấy nàng ta cũng có hiểu biết về rượu, thì ánh mắt càng tăng phần hứng thú.

Một người ăn mặc như thị nữ bước ra từ sau bức bình phong, dung nhan kiều diễm vô cùng, bước đi dịu dàng uyển chuyển, chỉ là thần thái có đôi chút lạnh lùng, khuôn mặt như được tạc từ tảng băng. Ðỗ Hân Ngôn ngây ra, thị tỳ đã đẹp đến nhường này, chủ nhân còn quốc sắc thiên hương đến chừng nào?

Vô Song đem ra hai cái bát ngọc trắng, rót rượu vào. Sắc rượu xanh nhạt càng làm nổi bật màu ngọc trắng, thanh tân, mãn nhãn. Vô Song lạnh lùng nhìn Ðỗ Hân Ngôn, để chàng chọn trước. Ðỗ Hân Ngôn tươi cười, bê một bát rượu lên.

Phía sau tấm bình phong, cô gái cầm bát rượu Vô Song đưa đến, chậm rãi nói: “Sao công tử lại biết ta đang ở Tích Thúy Viên?”.

“Chứ không phải là đại tiểu thư của Thẩm gia biết là tại hạ sẽ đến Tích Thúy Viên sao?”.

“Tiểu Ðỗ Kinh Thành quả nhiên cơ trí hơn người, vừa đoán đã trúng ngay”. Thẩm Tiếu Phi lạnh lùng đáp lời, “Bên ngoài đồn đại tiểu thư nhà họ Thẩm nhã nhặn hiền dịu, là tiểu thư khuê các không bước chân ra đến ngoài, những điều đó đều là giả. Thực ra ta rất nhỏ nhen, kẻ nào đắc tội ta, ta quyết đáp trả cho bằng được”. Nói xong, Thẩm Tiếu Phi uống hết bát rượu: “Rượu này hơi lạnh, không hợp với tiết trời này!”.

Ðỗ Hân Ngôn nghe nàng thẳng thắn thừa nhận như thế, thấy nàng thật quang minh lỗi lạc. Ðược mỹ nhân đối đãi như vậy, có ăn chút ba đậu, uống chút hoàng liên cũng không hề gì. Tự mình đề thơ vô lễ trước nên giờ chàng không giận Thẩm Tiếu Phi. Chàng uống cạn bát rượu, đứng dậy chắp tay: “Ðỗ Hân Ngôn vô ý đắc tội tiểu thư, tại hạ xin nhận lỗi ở đây”.

Vừa dứt lời, bụng chàng bỗng đau quặn. Ðỗ Hân Ngôn thầm mắng mình lại mắc mưu, nén đau phi thân vụt qua, chân đá tấm bình phong, chỉ nhìn thấy bóng Thẩm Tiếu Phi mặc áo lông chồn màu trắng vén tấm lụa rời đi, chàng giơ tay ra chộp lấy, tức thì trước mắt ánh kiếm sáng lóa, là Vô Song ra chiêu không hề nể tình. Ðỗ Hân Ngôn bụng đang đau quặn, đành phải lùi về phía sau.

Vô Song cũng chẳng dây dưa, hừ một tiếng rồi quay đầu bỏ đi, lạnh lùng ném lại một câu: “Thấy tiểu thư nhà chúng ta cũng uống nên tưởng rượu không có độc sao? Tiểu thư nhà chúng ta đã uống thuốc giải trước rồi. Ngốc”.

Ðỗ Hân Ngôn ngậm nguyên cục tức, trừng trừng nhìn theo ba cái bóng mỹ miều dần dần biến mất khỏi tầm mắt. Chàng ôm bụng ngồi xuống, cố đẩy một hơi xuống đan điền ép độc ra ngoài, mất khoảng thời gian một tuần trà, mới nhổ ra được một ngụm máu đen. Ðợi đến khi Vệ Tử Hạo cười hi hi bước vào, Ðỗ Hân Ngôn đã chẳng còn lòng dạ nào mà uống rượu thưởng tuyết nữa.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s